Showing posts with label du-lich-mien-bac. Show all posts
Showing posts with label du-lich-mien-bac. Show all posts

Thursday, August 4, 2011

Hồ Hoàn Kiếm Lake , đền Ngọc Sơn , cầu Thê Húc , tháp Bút , đài Nghiên


Hồ Hoàn Kiếm nằm lọt giữa lòng Hà Nội. Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh. Thế kỉ 15, hồ đổi tên là hồ Hoàn Kiếm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ.

 Ngọc Sơn là tên một hòn đảo giữa Hồ ,xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi), vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là Ngọc Tượng, đến đời Trần đổi tên là Ngọc Sơn. Tại đây đã có một ngôi đền thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông, lâu ngày đền ấy sụp đổ. Cuối đời Lê, trên cũ đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), nhường cho một hội từ thiện đổi làm đền thờ Tam Thánh và đổi tên là đền Ngọc Sơn.


Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc. Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm. Ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi là tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học.


Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ. Trường Quốc Tử Giám đời Lê, là một loại trường đại học đương thời.
Bên trong Văn Miếu có hai khu vườn dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ (là người đỗ cao nhất trong kỳ thi Ðình). Ngày trước, người đi học sau khoảng 10 năm đèn sách đủ vốn chữ để dự thi Hương tức khoa thi tổ chức liên tỉnh, cứ ba năm mở một khoa. Ðạt điểm cao của kỳ thi này đạt học vị Cử nhân. Năm sau các ông Cử tới kinh đô dự kỳ thi Hội. Những người đủ điểm chuẩn sẽ dự kỳ thi Ðình (thi Hội và thi Ðình thực ra là 2giai đoạn của một cuộc thi). Trúng tuyển kỳ thi này được gọi là Tiến sĩ. Hiện có 82 bia, xưa nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442, muộn nhất là bia khoa thi năm 1779.

Hồ Tây  có diện tích rộng hơn 500ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài tới 17km hồ Tây là một đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng . Hồ còn có tên là Xác Cáo (truyền thuyết Hồ ly tinh đời Âu Lạc), Trâu Vàng (truyền thuyết Sư Khổng Lộ). Theo thư tịch thì thế kỷ 11, hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ 15 thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên là Lãng Bạc.

Chùa Trấn Quốc
bên bờ Hồ Tây là ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội, khởi dựng từ thế kỷ 6, đời Lý Nam Ðế, chùa có tên là Khai Quốc (mở nước) và nằm ở phía ngoài đê Yên Phụ. Năm 1615 bãi sông bị lở nên đã rời vào trong đê và nằm bên Hồ Tây, chùa đổi tên nhiều lần: An Quốc, Trấn Quốc, Trấn Bắc... Chùa có qui mô bề thế bao gồm ba nếp nhà tiền đường, thiên hướng, thượng điện nối liền thành hình chữ công Đặc biệt chùa còn có vườn tháp lớn rất nhiều tháp. Khuôn viên chùa có cây bồ đề xum xuê cành lá, là quà tặng của Tổng thống Ấn Độ khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959


Chùa MộT Cột
Chùa Một Cột có tên chữ là Diên Hựu (phúc lành dài lâu) được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa để cầu tự. Một đêm ông chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện lên đài hoa sen ở một hồ nước hình vuông phía tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai trao cho nhà vua. Ít lâu sau hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đã thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm.

Chùa Một Cột là một Quốc tự, liên quan tới vua sáng lập triều Lý, được xây dựng gần khu vực Tử Cấm thành, hàng tháng cứ rằm, mồng một vua đến đặt lễ cầu phúc

Đền Quan Thánh
Tọa lạc bên Hồ Tây trong một khuôn viên đẹp đẽ và rộng lớn, trang nghiêm gần ngay cửa Bắc kinh thành, đây là di tích của một trong bốn "Thăng Long tứ trấn" ngày xưa được tạo dựng từ đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) để thờ thánh Trấn Vũ - vị thần trấn giữ phương Bắc. Vì thế, còn có tên là Đền Trấn Võ, Quan Thánh Trấn Võ, hay Quán Thánh. Ở đây có pho tượng bằng đồng đen, cao gần 4m, nặng gần 4 tấn, đúc năm 1677 để thể hiện lòng ngưỡng mộ của nhân dân với thánh Trấn Vũ

 Nhà thờ Hà nội
Ðược xây dựng trên khu đất vốn là nền của tòa tháp Báo Thiên nổi tiếng của kinh thành Thăng Long thời Lý (thế kỷ 11 - 12). Nhà thờ lớn Hà Nội (còn có tên là Nhà thờ Xanh Giô-dép) khánh thành vào lễ Giáng sinh năm 1887. Ðây là nơi tiến hành các lễ trọng của Công giáo và thường tổ chức lễ rước Thánh Quan Thầy của giáo phận Hà Nội là Giu-se vào ngày 19/3 hàng năm

Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Vietnam
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được khai trương vào cuối năm 1997. Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000 ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-sét phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam

Hoa Lư – cố đô ngàn năm

Năm 968 khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng tự xưng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và đặt kinh đô ở Hoa Lư. Trong 42 năm Hoa Lư là kinh đô của 2 triều Đinh – Tiền Lê. Rồi năm 1009 Vua Lý Thái Tổ dời đô vè Thành Thăng Long, từ đó Hoa Lư thành cố đô.

Núi non như tường thành...

Hơn ngàn năm trôi qua, biết bao thăng trầm của thời gian, sự hưng thịnh suy vong của các triều đại thì Hoa Lư vẫn như xưa, vẫn là cố đô đầu tiên của nước Việt độc lập. Sotaydulich.com sẽ cùng bạn khám phá nét xưa của Hoa Lư.

Khu chùa Bái Đính mới đang hoàn thiện

Là kinh đô của nước Việt trong 42 năm vì thế mà nơi đây đã được xây dựng rất kiên cố với hai vòng thành rộng khoảng 300ha, dựa vào thế núi thế sông nơi đây, các tường thành được xây nương theo các sườn núi, các dòng sông là con đường giao thông chính trong thành.

Thấp thoáng đền Vua Lê

Thành được chia làm 2 phần: thành trong và thành ngoài

Dòng sông yên ả đưa ta về cố đô xưa

Các cung điện của hoàng gia được xây dựng rất đồ sộ và uy nghi, có những cung điện mà theo sử sách là cột được bọc vàng và ngói lợp bằng bạc. Tường thành xây rất kiên cố có nơi mà theo như kết quả khào cổ nền móng còn lại thì tường thành có thể cao tới 8m và dày 10m. Khu dân cư và quân lính được bố trí phía ngoài của hoàng cung.

Nền cũ lâu đài...

Một màu xanh thiên thanh

Ngoài những gì mà con người xây dựng thì thiên nhiên nơi đây cũng là một tuyệt tác nghệ thuật mà bất kỳ du khách khó tính nào cũng phải trầm trồ khen ngợi thán phục bàn tay tạo hóa. Với núi non trùng điệp nhưng không quá cao, những dòng sông uốn lượn quanh co qua các dãy núi đá vôi tạo cho nơi đây một khung cảnh được mệnh danh là Hạ Long trên cạn.

Núi Kỳ Lân

Không những thế nơi đây còn lưu giữ những bản sắc văn hóa truyền thống  của dân tộc, những trò chơi từ ngàn xưa.

Khám phá Thành nhà Hồ - di sản văn hóa thế giới

Thành nhà Hồ nằm trên địa bàn xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa), từng là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của nước ta. Dù chỉ tồn tại trong thời gian bảy năm (1400- 1407) dưới triều nhà Hồ, nhưng đây là một công trình kiến trúc độc đáo, một biểu tượng kiệt xuất của những công trình thành cổ.
Thành nhà Hồ được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, rất độc đáo. Bên ngoài thành được xây bằng đá nguyên khối, còn bên trong chủ yếu đắp đất có trộn sỏi và đá mồ côi để gia cố. Được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông, hai mặt nam và bắc của Thành nhà Hồ dài gần 900m, đông và tây dài hơn 800m và tường thành bao quanh. Độ cao trung bình của thành 7-8m, có nơi như cửa phía Nam cao tới 10m.
Đây là một bằng chứng quan trọng về sức lao động và tài năng khéo léo của nhân dân ta lúc bấy giờ.

Mặt ngoài cổng phía bắc Thành nhà Hồ

Đoàn du khách Lào - đoàn du khách quốc tế đầu tiên tham quan di sản Thành nhà Hồ sáng 28-6, 
sau khi Thành nhà Hồ được công nhận là di sản văn hóa thế giới - Ảnh: Hà Đồng

Vào đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier - chuyên nghiên cứu về văn hóa Đông Dương - đã nhận xét về Thành nhà Hồ như sau: "Chúng tôi phải nói rõ ngôi thành này là một mẫu mực độc nhất về việc sử dụng những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách rất tài tình...".
Đến với Thành nhà Hồ, chúng ta sẽ thấy rất thú vị khi được chiêm ngưỡng những hiện vật liên quan đến triều Hồ như: những viên gạch bìa bằng đất nung dùng để xây dựng đoạn tường gạch bên trên tường thành bằng đá xếp nhằm tạo độ cao cho thành, cũng là tạo điều kiện thuận lợi cho quân sĩ quan sát xung quanh thành. Bi đá dùng kết hợp với các con lăn để vận chuyển những khối đá lớn phục vụ việc xây tường thành.

Ngói mũi, ngói bò bằng đất nung dùng để trang trí bộ mái của kiến trúc cung điện thời nhà Hồ. Các loại vũ khí gồm đạn đá, chông sắt bốn cạnh, mũi dao, mũi tên, đinh thuyền được tìm thấy ở đây, điều đó chứng tỏ công tác phòng thủ quân sự được triều nhà Hồ rất chú trọng. Bao nung gốm dùng để nung các vật liệu tráng men và bình, lon sành - là các đồ gia dụng thường được dùng thời nhà Hồ. Các loại vật liệu bằng đất nung với nhiều hoa văn tinh xảo như ngói đầu đao, đầu rồng... dùng để trang trí góc mái cung điện thời nhà Hồ...

Di vật quý bằng đất nung vừa phát hiện ở Thành nhà Hồ

Bi đá và gạch nung có từ triều nhà Hồ

Ông Vương Văn Việt - phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, trưởng ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ di sản Thành nhà Hồ - khẳng định: "UBND tỉnh, nhân dân Thanh Hóa cam kết bảo tồn nghiêm ngặt, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của Thành nhà Hồ; từng bước đầu tư để công trình kiến trúc độc đáo này phát huy hiệu quả về mọi mặt, xứng đáng là di sản văn hóa thế giới.
Trong đó, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm đến nâng cao đời sống của người dân quanh khu vực Thành nhà Hồ nói riêng và nhân dân huyện Vĩnh Lộc- nơi có Thành nhà Hồ nói chung...".
Đây là những hiện vật được các nhà khảo cổ học khai quật, tìm thấy trong thời gian qua tại khu vực đàn tế Nam Giao, thuộc quần thể di sản Thành nhà Hồ.

Các hiện vật này đang được trưng bày tại Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ (thuộc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Thanh Hóa) ở xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc. Thành nhà Hồ là một trong những di tích đầu tiên được Nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1962. Qua hơn 600 năm, trải qua nhiều biến cố lịch sử, thời tiết, đến nay một số hạng mục của Thành nhà Hồ đã xuống cấp.
Tiến sĩ Đỗ Quang Trọng - giám đốc Trung tâm bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ cho biết: "Mặt bằng kiến trúc của Thành nhà Hồ trải qua hơn 600 năm nhưng đến nay vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Di tích này là kinh đô cổ nhất ở nước ta còn nguyên vẹn cả về kiến trúc bề mặt và các lớp hiện vật, di vật nằm trong lòng đất chưa khai quật."
"Những năm qua, các nhà khảo cổ học đã khai quật tại khu vực nền vua (thuộc nội thành), La thành, đàn tế Nam Giao, cửa phía nam của thành đã phát hiện một phần sân trước, sân sau của khu vực Ngọ Môn Thành nhà Hồ và nhiều di vật, hiện vật của triều Hồ rất có giá trị. Từ năm 2004 đến nay, qua nhiều lần khai quật khảo cổ học quần thể di sản Thành nhà Hồ, các nhà khoa học đã phát hiện hàng chục nghìn di vật, hiện vật quý liên quan đến triều Hồ...".

Một đoạn tường thành phía bắc Thành nhà Hồ bị sụt lún 

Thành nhà Hồ nhìn từ cổng phía bắc

Bà Katherine Muller Marin - trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam - cho biết: "Tôi cho rằng việc đề cử để công nhận một di sản cấp quốc gia trở thành Di sản văn hóa thế giới đã khó, nhưng giữ gìn, phát huy giá trị di sản đó sau khi được công nhận còn khó hơn nhiều. Vì Ủy ban di sản thế giới gồm 21 quốc gia thành viên luôn giám sát chặt chẽ, nếu các di sản không được bảo tồn tốt thì rất có thể sẽ bị loại bỏ".

"Riêng cá nhân tôi rất có ấn tượng về Thành nhà Hồ, nhất là đàn tế Nam Giao, giếng vua ở quần thể di tích này. Trong quá trình vận động đề cử hồ sơ di sản Thành nhà Hồ trở thành Di sản văn hóa thế giới, chính quyền tỉnh Thanh Hóa cần cam kết, có trách nhiệm đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, phát huy di sản này, nhất là việc nâng cao đời sống của người dân quanh khu vực Thành nhà Hồ...".

Hùng vĩ và thơ mộng những ngọn núi ở Lào Cai

Núi non Lào Cai trùng trùng điệp điệp, nơi đây có nhiều ngọn núi cao và đẹp nhất Việt Nam và vùng Tây Bắc nằm trên dãy núi Con Voi và dãy Hoàng Liên Sơn.

Đỉnh núi Phan Xi Păng cao nhất Việt Nam nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn, nhìn từ thị trấn Sa Pa. 

Lào Cai là một trong số ít những địa phương ở miền núi phía Bắc Việt Nam có địa hình chia làm hai vùng cao, thấp khác nhau. Vùng núi cao hùng vĩ, hiểm trở tập trung ở phía Bắc tỉnh gồm các huyện: Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai. Vùng rừng núi trung bình tập trung ở phía Nam và Tây Nam tỉnh gồm các huyện: Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Bàn và thành phố Lào Cai nằm ở phía Bắc tỉnh. Núi non Lào Cai trùng trùng điệp điệp và nơi đây có nhiều ngọn núi cao và đẹp nhất Việt Nam và vùng Tây Bắc nằm trên dãy núi Con Voi và dãy Hoàng Liên Sơn.

Hùng vĩ nhất và nổi tiếng nhất vẫn là dãy Hoàng Liên Sơn chạy dài từ Sa Pa xuống Văn Bàn và tỉnh Yên Bái. Nơi đây có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143 mét được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương" và "Nóc nhà Việt Nam". Tiếp đến là đỉnh núi Ngũ Chỉ Sơn cao 3.090 mét có năm ngọn núi vươn lên trời như bàn tay khổng lồ giơ cao lên trời xanh. Ngũ Chỉ Sơn là ngọn núi cao thứ nhì Việt Nam và đây cũng là một trong những ngọn núi đẹp nhất Lào Cai. Trên dãy Hoàng Liên còn có các đỉnh núi cao nổi tiếng khác như: đỉnh Pu Luông (2.985 mét), đỉnh Lùng Cúng (2.913 mét), đỉnh Xi Giơ Pao (2.876 mét), đỉnh Sa Phình (2.871 mét), đỉnh Bá Muông (2.500 mét), đỉnh Pú Một (2.132 mét), đỉnh Pú Gia Lan (1.458 mét)... Trong số đó đỉnh núi Pú Gia Lan khá nổi tiếng vùng đất Văn Bàn từ lâu vì gắn với chiến tích của khu du kích cách mạng cùng tên thời kháng chiến chống Pháp và truyền thuyết núi Bà cháu...

Đỉnh núi Ngũ Chỉ Sơn hùng vĩ ở địa phận xã Tả Giàng Phình, huyện Sa Pa. 

Vùng đất phía Đông tỉnh có dãy núi Tây Côn Lĩnh hùng vĩ từ tỉnh Hà Giang vươn sang Bắc Hà - Si Ma Cai đã tạo nên những đỉnh núi cao nơi đây như: Tả Củ Tỷ (1.856 mét), Quan Thần Sán (1.800 mét), Lầu Thí Ngài (1.638 mét)... Đặc biệt, ở  thị trấn huyện lỵ Bắc Hà có núi Ba Mẹ Con, núi Cô Tiên tạo nên phong cảnh hữu tình của vùng du lịch nổi tiếng gắn với truyền thuyết sự hình thành của ngọn núi.

Dãy núi Cao Sơn (Mường Khương) và dãy núi Con Voi (Bảo Yên) chạy gần như song song với dòng sông Hồng và sông Chảy thơ mộng là quê hương bao đời nay của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.
Hầu như huyện nào, vùng nào cũng có một ngọn núi là biểu tượng của địa phương mình với bao câu chuyện huyền thoại bi hùng như: núi Cô Tiên ở huyện Mường Khương, núi Ba Mẹ Con ở thị trấn Bắc Hà, núi Pú Gia Lan ở huyện Văn Bàn, núi Nhìu Cồ San ở vùng cao huyện Bát Xát, núi Nhạc Sơn ở thành phố Lào Cai...

Danh thắng núi Cô Tiên (Mường Khương). 

Núi rừng Lào Cai tạo nên những bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp mỗi sớm mai mây bay đỉnh núi hoặc ánh hoàng hôn khi chiều buông. Đó là "sản phẩm du lịch" có một không hai ở vùng cao Lào Cai và vùng Tây Bắc luôn thu hút du khách xa gần và các văn nghệ sỹ tới thăm, khám phá, sáng tạo ra những tác phẩm văn học - nghệ thuật để đời.
Trong số đó, leo núi chinh phục đỉnh Phan Xi Păng, leo núi thăm khu du lịch sinh thái Hàm Rồng (Sa Pa) và đi bộ chinh phục đỉnh núi Ba Mẹ Con (Bắc Hà) đã và đang trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách quốc tế và du khách trẻ Việt Nam.

Wednesday, August 3, 2011

Du Lịch Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị đặc biệt, ngoại hạng mang tính toàn cầu về cảnh quan và địa chất - địa mạo.

Nằm ở vùng Ðông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn. Phía tây nam Vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn từ 106o58' - 107o22' kinh độ Ðông và 20o45' - 20o50' vĩ độ Bắc với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Ðảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm.

Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Ðầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.


Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động. Ði giữa Hạ Long, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá, đảo thì giống hình một người đang đứng hướng về đất liền (hòn Ðầu Người), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Cặp Gà, hòn Lư Hương... Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc. Hình dáng những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn. Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Ðầu Gỗ, động Sửng Sốt, động Tam Cung...


Ðó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là kỳ quan đất dựng giữa trời cao. Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Ðồn - nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ ghi bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Ðằng - nơi đã từng chứng kiến hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm.. Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hoá Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Ðồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng... Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới... Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực... Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.




Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Thăm vịnh Lan Hạ, đảo Cát Bà


Lan Hạ, chỉ riêng với cái tên kiêu sa ấy đã gợi cho du khách biết bao tò mò, háo hức. Một vịnh đảo nằm ở đông nam quần đảo Cát Bà này lẽ ra đã nức tiếng nếu như không nằm kề với một “đại gia” về điểm đến du lịch, vịnh Hạ Long
Kỳ thực, nếu không bị nạn tai bởi địa giới hành chính, Lan Hạ chính là một phần của quần thể vịnh Hạ Long. Nó cũng là một vùng vịnh êm ắng hình vòng cung với khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên một bức tranh khổng lồ khắc hoạ lại cảnh tiên. Khác một chút với Hạ Long là cho dù chỉ là hòn đảo bé tí như một hòn non bộ thì đảo của Lan Hạ cũng được phủ đầy cây xanh hay thảm thực vật.

Vịnh Lan Hạ

Một nhà báo, sau một ngày thăm thú vịnh Lan Hạ, đã ví “như một cô gái trinh nguyên chưa gặp “quân tử”. Cũng như Hạ Long nhưng ở Lan Hạ thỉnh thoảng người ta mới thấy những chiếc tàu du lịch chở lưa thưa vài vị du khách tây. Một vùng biển thanh bình với những làng chài nhỏ sống như tách biệt với phần còn lại của thế giới. Có đến hàng trăm bãi cát vàng nhỏ nhắn, xinh xắn và hoang vắng như những “eo biển xanh” gọi mời du khách khám phá.

Đảo Cát Bà

Phải có “gu” du lịch khám phá như khách tây mới nên tìm đến Lan Hạ, Cát Bà. Vịnh Lan Hạ và vườn quốc gia Cát Bà chính là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Chính vì vậy, những du khách Âu – Mỹ ba lô thường thuê thuyền tự khám phá vịnh đảo, lọc lựa trong cả trăm bãi tắm một bãi cát hoang sơ nào đó thật vừa ý để cắm trại qua đêm. Những vùng biển lặng nước như ở đảo Sến, đảo Cù, đảo Khỉ…, chính là nơi du khách có thể lặn ngắm san hô. Những hang động thạch nhũ, những nét chấm phá đặc trưng của quần thể Hạ Long, cũng có mặt tại Lan Hạ. Đó là Hàm Rồng, Dõ Cùng, hang Cả… Thấp thoáng dưới nhiều  cụm đảo yên bình là những làng bè nuôi các loại đặc sản của vùng như cá giò, tu hài, bào ngư, cá mú…
Vuờn quốc gia Cát Bà

Những vị khách phương xa này cũng thường chọn thêm một chuyến đi xuyên rừng quốc gia Cát Bà, nơi sinh sống nhiều loài thú quý trong đó có loài voọc đầu trắng quý hiếm và khu rừng cây kim giao. Vượt qua đỉnh Ngự Lâm, ở cuối cuộc hành trình là làng chài Việt Hải, một làng chài hoang sơ nhất của đảo Cát Bà, nơi các du khách có thể khám phá nhiều điều thú vị về một làng chài Bắc bộ…

Với những tiềm năng của mình, vịnh Lan Hạ và đảo Cát Bà đã được các công ty du lịch như Vietravel ngắm nghía và đưa vào các tuyến du lịch khám phá miền Bắc cho các cư dân phía Nam. Tuyến du lịch mới nhất của công ty này chính là tuyến Yên Tử – Hạ Long – Cát Bà – Ninh Bình, trong đó điểm nhấn chính là hai ngày lênh đênh trên du thuyền khám phá vịnh Hạ Long và vịnh Lan Hạ…

Ấn tượng Hồ Ba Bể (Bắc Cạn)

Vào một ngày trời đông se lạnh, chúng tôi đã đến thăm hồ Ba Bể, được tận mắt ngắm nhìn vẻ đẹp hoang sơ của hồ. Phong cảnh nơi đây như một bức tranh thủy mặc hữu tình, nên thơ làm say lòng biết bao du khách.

Hồ Ba Bể là thắng cảnh đẹp huyền ảo mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Bắc Kạn, được UNESCO xếp vào danh sách 20 hồ nước ngọt đẹp nhất cần được bảo vệ và phát triển.
Tôi từng đọc ở đâu rằng: “Hồ Ba Bể là hồ nước thiên nhiên lớn nhất VN (500 ha). Nó như một bảng màu lộng lẫy biến hóa khôn lường, lúc xanh rêu lạnh lẽo sau bóng núi, chợt chuyển sang xanh lam khi mặt trời ló ra, hoà cùng sắc vàng rực rỡ của bóng cây, sắc trắng tinh khôi của những đám mây... tạo nên một Ba Bể đẹp và có sức cuốn hút du khách đến kỳ lạ”.

Và hôm nay, vào một ngày trời đông se lạnh, chúng tôi đã đến thăm hồ Ba Bể, được tận mắt ngắm nhìn vẻ đẹp hoang sơ của hồ Ba Bể. Phong cảnh nơi đây như một bức tranh thủy mặc hữu tình, nên thơ làm say lòng biết bao du khách.

Theo sử sách chép lại, Ba Bể nằm giữa lòng núi rừng Việt Bắc, kẹp giữa hai cánh cung Ngân Sơn và Sông Gâm. Hồ được thắt khúc bởi 3 hồ là Pé Lầm, Pé Lù, và Pé Lèng nên được gọi là hồ Ba Bể. Địa điểm đầu tiên mà chúng tôi bắt gặp trong hành trình khám phá “viên ngọc xanh giữa núi rừng Việt Bắc” chính là dòng sông Năng êm đềm chảy dưới chân núi đá vôi, giữa những bờ vách đứng xuyên qua núi Lung Nham, nơi đó gọi là động Puông.

Thuyền nhỏ luồn trong động Puông chập chờn trong ánh sáng mờ ảo, những thạch nhũ hình thù kỳ lạ hiện lên trước cửa động. Đi khỏi cửa động chừng 4 km vào địa phận hồ Ba Bể, một hồ kiến tạo lớn nhất miền bắc Việt Nam. Hồ trải rộng gần 2 km và dài tới hơn 8 km. Đoạn giữa hồ hơi eo lại. Có hai đảo nhỏ nổi lên giữa hồ, một đảo giống như con ngựa đóng cương đang lội nước (nên còn gọi là đảo An Mã). Hòn đảo giống như một “khu rừng nhỏ” bởi ở đó có chim, có cây, đặc biệt là có hoa lan rất đẹp.
Bao quanh hồ là vườn quốc gia Ba Bể với thảm thực vật phong phú và nhiều loài động vật quý hiếm được ghi tên vào Sách Đỏ Việt Nam như phượng hoàng đất, gà lôi. Một điều lý thú khi đến với Ba Bể đối với chúng tôi là được ngồi trên những chiếc thuyền độc mộc do bà con người Tày cầm lái. Họ chính là những hướng dẫn viên không chuyên nhiệt tình và đầy hiểu biết, đem lại cho chúng tôi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.

Theo chân những “hướng dẫn viên không chuyên”, chúng tôi được tham quan 21 điểm du lịch kỳ thú nằm trong quần thể Vườn quốc gia Ba Bể như hang Dơi, động Puông, động Nả Phoòng, động Thẳm Kít, cảnh đẹp huyền ảo của Động Tiên, sự trong trẻo, mát lạnh của Ao Tiên hay nét mạnh mẽ, cuồn cuộn của Thác Đầu Đẳng… tất cả như một thế giới kỳ diệu của thiên nhiên hoang dã. Chỉ có thiên nhiên mới tạo ra được vẻ đẹp diệu kỳ của hồ Ba Bể.
Một phức hệ bao gồm sông suối, hồ, núi rừng, hang động ở đây đã giữ cho nước hồ Ba Bể có nhiệt độ trung bình cả năm 22 độ C, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè. Nói Ba Bể có đủ sức lôi cuốn, giữ chân du khách cả bốn mùa cũng là vì thế.
Chia tay Ba Bể nhưng làn điệu then say đắm lòng người của các cô sơn nữ áo chàm như vẫn vang vọng đâu đây trong hành trình khám phá Ba Bể của chúng tôi.

Du Lịch Chùa Bút Tháp (BẮc Ninh)


Chùa có từ thời vua Trần Thánh Tông. Năm 1647, chùa được Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Lê Thị Ngọc Duyên trùng tu và xây dựng lại.


Chùa thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đến thăm chùa vào một trưa hè oi nóng, vắng vẻ. Bên ngoài chỉ có dăm ba hàng quán bán hương và đồ ăn. Bước chân vào qua cánh cổng chùa tôi cứ ngỡ như vừa bước qua cánh cửa thời gian.
Cả không gian được bao phủ bởi nét cổ kính, hoang sơ với hai cây đa cổ thụ vẫn vững chãi trầm ngâm mặc bao sương gió đã đi qua, với những đám cỏ mọc rất hiền hòa dưới lối đi, thoang thoảng đâu đây là hương thơm dịu dàng của những đóa sen.


Chùa rất rộng, có cấu trúc thành nhiều tòa, được ngăn cách nhau bởi những khoảng trống lộ thiên, khác với nhiều ngôi chùa thường xây dựng theo kiểu liền tòa.
Kiến trúc chùa được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm, nhưng lại tự nhiên ở khu vực xung quanh. Quanh các điện thờ là hai hàng cau thẳng tắp “mà hương cau ngan ngát quanh vườn trầu”.

Ngay trong chùa, bao quanh chiếc cầu đá nối giữa Thượng điện và Tích thiện cũng có một đầm sen nhỏ càng làm khung cảnh thêm hiền hòa, tĩnh tại. Trên đầu cầu là hai con sư tử đá và rất nhiều hoa văn, họa tiết được chạm trổ cầu kì ,tinh vi, thể hiện giá trị nghệ thuật tinh xảo thời bấy giờ. Ngồi ở vị trị này, ta có thể nhìn ngẵm được những nét đẹp rất riêng của chùa. Rất nhiều bạn trẻ đến với chùa đã chọn chiếc cầu đá làm nơi lưu lại những hình ảnh kỉ niệm.


Năm 1876, khi vua Tự Đức đi qua đây thấy có cây tháp khổng lồ nên đã gọi là Bút Tháp. Đó chính là Tháp Bảo Nghiêm, tọa lạc ngay giữa khu vườn yên tĩnh ngập tràn bóng cây với hương bưởi thơm ngát trên đỉnh có hình nậm rượu, 5 tầng, 8 mặt, cao 13m, thờ hòa thượng Chuyết Chuyết, vị sư tổ của chùa. Ngày nay, Bảo Nghiêm vẫn uy nghi in bóng nên nền trời xanh ngắt đầy uy nghiêm.
Ngoài Tháp Bảo Nghiêm, chùa còn có tháp Tôn Ðức 5 tầng, cao 10m là nơi thờ thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa. Điều đặc biệt là trên đỉnh tháp vẫn có cây cỏ phát triển.

Nhắc đến chùa Bút Tháp người ta không thể không nhắc tới bức tượng Bồ tát Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam, ngoài ra còn có bộ tượng tam thế, tượng Quan âm tọa sơn, tượng Văn Phù và Phổ Hiền Bồ Tát, các phong tượng hậu bằng gỗ như tượng Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, tượng Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, tượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và rất nhiều các pho tượng cổ khác, là những tác phẩm nghệ thuật vô giá.
Thế nhưng, cuốn hút nhất với tôi có lẽ là toà "Cửu phẩm Liên Hoa". Toà bằng gỗ, gồm 9 tầng có khắc tượng phật xung quanh. Ðiều đặc biệt là nó có thể quay được và không hề phát ra tiếng kêu dù được làm từ mấy thế kỷ!

Đến với chùa Bút Tháp, tôi không chỉ có cảm giác đặt chân đến một địa điểm in đậm dấu ấn thời gian mà còn như được lật mở cuốn sách chứa đựng biết bao giá trị văn hóa, nghệ thuật của quá khứ còn đang chờ đợi được khám phá và giữ gìn.

Du Lịch Thác Bản Giốc (Cao BẰng)

Thác Bản Giốc được xem là một trong những tặng vật vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Cao Bằng. Đó là một thác nước cao, hùng vĩ và đẹp vào bậc nhất của Việt Nam.

Thiên nhiên thật hùng vĩ

Thác Bản Giốc nằm trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km theo tỉnh lộ 206 về phía Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 26 km. Sau dòng thác là dòng sông, bạn có thể đi du thuyền trên sông.
Bờ sông với cảnh quan đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh. Với độ cao 53 m, rộng 300 m, thác có 3 tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau. Những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi, tạo thành một màn bụi nước trắng xóa.

Ngay từ xa, du khách đã có thể nghe thấy tiếng ầm ào của thác vang động cả một vùng rộng lớn. Giữa thác có một mô đá rộng phủ đầy cây đã xẻ dòng sông thành ba luồng nước như ba dải lụa trắng.

Phần nhỏ của con thác đổ xuống hồ nhỏ trông rất thơ mộng
Đây là nơi tập trung của nhiều con thác


Du Lịch Hương Sơn (HÀ TÂY)


Khu danh thắng Hương Sơn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 70km. Hương Sơn bao gồm cả một quần thể: núi non, sông suối, làng mạc, chùa chiền, hang động... nằm quanh dãy núi Hương Tích, phía bắc rặng Trường Sơn, rộng hàng ngàn héc ta. Chia thành ba tuyến chính


Tuyến Hương Tích: Gồm có Suối Yến, đền Trình, cầu Hội, chùa Thanh Sơn, Hương Ðài, Thiên Trù, Hinh Bồng, chùa Tiên, Giải Oan, đền Cửa Võng, động Hương Tích. (được tặng danh hiệu Nam Thiên đệ nhất động - động đẹp nhất trời Nam).

Tuyến Long Vân: Gồm có động và chùa Long Vân, động Tiên, động Người Xưa, chùa Cây Khế, Hinh Bồng Tự.

Tuyến chùa Tuyết: Gồm đền trình Phú Yên, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả, Bảo Ðài, đền Mẫu, đền Thượng, động Ngọc Long...




Tam bảo chùa Thiên Trù